Chia sẻ, hướng dẫn các kinh nghiệm chăm sóc, chơi hồ cá thủy sinh mini

Giới thiệu các phong cách chơi Bể Thủy Sinh năm 2017

Giới thiệu các phong cách chơi Bể Thủy Sinh

Đối với thiết kế Bể thủy sinh thì sự sáng tạo là vô hạn. Tất cả kiểu trang trí từ đơn giản đến cầu kỳ thì đều mang nét đẹp riêng, không lẫn vào đâu được. Tuy nhiên, nếu bạn theo một phong cách bố cục đặc biệt náo đó thì hồ cá của bạn sẻ trở nên tuyệt vời hơn. Và dưới đây là những phong cách trang trí hồ cá thủy sinh phổ biến nhất trên toàn thế giới 2017:

 

Trang trí hồ cá thủy sinh theo phong cách Iwagumi

Kiểu trang trí hồ cá theo phong cách Iwagumi này rất phổ biến hiện nay. Cha đẻ của phong cách này chính là Takashi Amano, một nghệ nhân người Nhất được làng thủy sinh tôn sùng. Điểm đặc trưng của hồ cá Iwagumi là sự sắp đá theo “Golden Ratio” hoặc “Rule of Thirds”. Luôn luôn là số lẻ trong việc lựa chọn số lượng đá bố trí và ít nhất là ba hòn đá . Trong đó sẻ có hòn đá lớn nhất , và hai hòn đá thứ cấp .

Nhìn sơ qua thì phong cách Iwagumi này khá đơn giản, nhưng sự sắp xếp các hòn đá thì khá phức tạp. Những hồ cá mang phong cách Iwagumi thường tạo ra bức tranh giản dị với không gian mở. Số lượng cây thủy sinh sử dụng cũng khá hạn chế, chủ yếu là thảm cỏ và một vài cây điểm ngay mép đá.

 

Đây là Hồ cá thủy sinh trang trí theo phong cách Iwagumi

Đây là Hồ cá thủy sinh trang trí theo phong cách Iwagumi 

Ngoài ra những hồ cá trang trí theo phong cách Iwagumi thường dùng cá nhỏ theo bày đàn như Neon giúp cho không gian trong hồ cá quy mô hơn.

Trang trí hồ cá thủy sinh theo phong cách Sinh Cảnh

Đây là phong cách mô phỏng cảnh vật thiên nhiên dưới nước. Một môi trường thiên nhiên với đầy đủ lũa, đá, thực vật và động vật như một phần sinh cảnh hoang dã. Phong cách này khá đẹp và dễ, vì không cần phải cầu kỳ về bố cục cũng như loài thực vật nào bạn phải sử dụng để trang trí hồ cá của mình. Nếu bạn là người thích tìm hiểu về thực vật và động vật thủy sinh thì hãy trang trí hồ cá theo phong cách Sinh cảnh này

 

Hồ cá thủy sinh trang trí theo phong cách Sinh Cảnh

 

Trang trí hồ cá thủy sinh theo phong cách Rừng Rậm

Đúng như cái tên của nó, với phong cách trang trí hồ cá rừng rậm này thì bạn sẻ có cả một khu rừng xanh, rậm. Điểm nổi bậc ở phong cách này là mô phỏng một khu rừng rậm nhiệt đới , amazon, hay bất kỳ vị trí nào thì nhìn vô đều thấy xanh và rậm . Đây là phong cách rất phổ biến hiện nay, rất thích hợp để trang trí những hồ thủy sinh có diện tích lớn .

Đây là Hồ cá thủy sinh trang trí theo phong cách Rừng Rậm

Hồ cá thủy sinh trang trí theo phong cách Rừng Rậm

 

Trang trí hồ cá thủy sinh theo phong cách Cảnh Thiên Nhiên

Bạn có thể tìm những hình ảnh hồ thủy sinh được trang trí với phong cách này ở internet, trong những diễn đàn và các giải thưởng lớn của cuộc thi thủy sinh.

Những hồ cá thủy sinh được trang trí theo cảnh của núi đồi, thung lũng, suối , rừng cây v.v… Với tỉ lệ hợp lý, cách sắp xếp bố cục kết hợp với nhiều chủng loại cây thủy sinh khác nhau sẻ làm hồ cá bạn như một bức tranh quang cảnh thiên nhiên . Đây có vẻ là phong cách thu hút nhất hiện nay. Nếu bạn muốn trang trí một hồ cá theo phong cách này thì yêu cầu đầu tiên là sự tỉ mỉ tốt.

Đây là Hồ cá thủy sinh trang trí theo phong cách Thiên Nhiên

Hồ cá thủy sinh trang trí theo phong cách Cảnh Thiên Nhiên

 

Trang trí hồ cá thủy sinh theo phong cách Đài Loan

Đây là một phong cách trang trí hồ cá khá phức tạp, có lẻ chính vì vậy mà phong cách này cũng ít khi thấy. Bạn sẻ thường thấy hình ảnh đồng quê với ruộng bậc thang, cây cổ thụ…. Điểm nổi bậc nhất trong phong cách này là sự kết hợp những mô hình tượng nhỏ như : ngôi nhà, ông già ngồi câu cá, các con vật nhỏ v.v… giống như một bức tranh cuộc sống đồng quê. Một phong cách trang trí hồ cá đẹp nhưng khó.

Đây là Hồ cá thủy sinh trang trí theo phong cách Đài Loan

Hồ cá thủy sinh trang trí theo phong cách Đài Loan

 

Trang trí hồ cá thủy sinh theo phong cách Hà Lan

Đặc trưng của phong cách Hà Lan này là có rất nhiều loại cây khác nhau được sắp xếp thành cụm. Các loại cây thủy sinh được sắp xếp thành cụm và vị trí cũng được bố trí theo tầng tầng lớp lớp. Sự sắp xếp khéo léo làm nổi bật lên màu sắc là điểm thú vị nhất trong kiểu trang trí hồ thủy sinh này . Ngoài ra, phần lũa và đá ít khi được thấy. Nếu bạn muốn trang trí hồ cá mình theo phong cách Hà Lan thì kiến thức tổng quát về cây thủy sinh rất quan trọng. Đây là một phong cách trang trí hồ cá khó, nhưng lại mang cho bạn một hồ cá nổi bật đầy màu sắc sinh động.

Đây là Hồ cá thủy sinh trang trí theo phong cách Hà Lan

Hồ cá thủy sinh trang trí theo phong cách Hà Lan

Trang trí hồ cá thủy sinh theo phong cách Tự Do

Đây là một phong cách hoàn toàn khác biệt không theo bất kỳ chủ đề nào, các loài cây thủy sinh được trồng một cách ngẫu nhiên như chúng sống ở môi trường hoang dã. Dễ chăm sóc, không cầu kỳ về bố cục, không cần chọn lựa cây thủy sinh . Nếu nói phong cách trang trí hồ cá ngẫu nhiên này dành cho người tập chơi cũng đúng, chủ yếu là xanh, rậm, cây phát triển tốt.

Đây là Hồ cá thủy sinh trang trí theo phong cách Tự Do

Hồ cá thủy sinh trang trí theo phong cách Tự Do

Trang trí hồ cá thủy sinh theo phong cách Bán Cạn

Sự kết hợp tinh tế giữa cây thủy sinh và thực vật trên cạn. Bố cục mô phỏng các kỳ quan thiên nhiên như: Rừng nhiệt đới, Đồi núi, Phong cảnh tự nhiên… Bể bán cạn (riparium), như tên gọi của nó, chỉ có một phần được ngập trong nước, đây là biến thể độc đáo của bể thủy sinh tự nhiên được AquaZone thiết kế nhằm thỏa mãn thú chơi cây và cá cảnh của những khách hàng khó tính, không muốn đi trên con đường mòn của nghệ thuật thủy sinh cảnh. Những cái mới cần có thời gian để chứng minh và được chấp nhận, nhưng AquaZone cam kết, khi trải nghiệm Riparium, quý khách sẽ được cảm nhận những bố cục phá cách của bể thủy sinh truyền thống và quý khách như được hòa mình vào thế giới tự nhiên hoang sơ nhưng đầy chất nghệ thuật của bể bán cạn.

Đây là Hồ cá thủy sinh trang trí theo phong cách Bán Cạn

Hồ cá thủy sinh trang trí theo phong cách Bán cạn

Bể Thủy Sinh Theo Phong Cách Hà Lan

Giới thiệu phong cách chơi bể thủy sinh Hà Lan

Bể thủy sinh Hà Lan truyền thống được coi như là một hoa viên dưới nước nơi mà cây thủy sinh được trồng thành cụm tương hỗ để hình thành một cấu trúc có độ tương phản về màu sắc và hình dạng, cũng như chiều sâu. Vài người so sánh nó với phong cách hoa viên Ăng Lê nhưng những người Hà Lan mà tôi tiếp xúc không hề đưa ra bất kỳ tên gọi hay nguồn gốc ảnh hưởng nào. Với họ, đấy đơn giản chỉ là một cách thể hiện và luôn được thể hiện trong nhiều thập kỷ vừa qua.

Nếu bạn được chứng kiến tận mắt thì sẽ thấy không lẫn vào đâu được. Độ tương phản mạnh mẽ. Màu sắc dịu dàng. Lối mòn khuất dần vào bóng đêm. Đấy là những gì được chắt lọc qua nhiều thế hệ người chơi thủy sinh, những người tham dự vào một tổ chức quốc gia có tên National Bond Aqua-Terra (NBAT), gồm tổng cộng 122 câu lạc bộ địa phương phân bổ trong 15 quận. Mọi người trước tiên dự thi ở cấp câu lạc bộ địa phương. Người chiến thắng ở một trong năm thể loại (hồ thủy sinh – freshwater plant, hồ sinh thái – biotope, bể cạn & bán cạn – paludarium & terrarium, sẽ được dự thi ở cấp quận cùng với những người chiến thắng ở các câu lạc bộ khác. Những người chiến thắng cấp quận sẽ dự thi cùng với nhau ở cấp quốc gia. Ở mỗi cấp, một trọng tài sẽ viếng thăm nhà riêng của mỗi ứng viên để chấm điểm bể dự thi.

Đây là một ngành kinh doanh nghiêm túc! Để trở thành trọng tài của NBAT, bạn phải hoàn tất một bài kiểm tra và trải qua ba năm huấn luyện!

Kỹ thuật bố cục

Có một số nguyên tắc cơ bản trong việc thiết lập bố cục bể thủy sinh Hà Lan:

1) Nhất định phải tạo ra cảm giác hài hòa và mộc mạc, vì lý do này, trong mỗi đoạn 10 cm chiều rộng bể không được có quá 4 loài cây. Kèm theo điều này, các bụi cây phải tách bạch và không được quá lấn lướt.

2) Tương tự như các họa sĩ, người Hà Lan áp dụng nguyên tắc chia 3. Họ chia chiều rộngbể ra làm 3 phần và đặt một tiêu điểm chính (chẳng hạn một cây màu đỏ, một cây to, một ít lũa hay đá) tại vị trí một phần ba hay hai phần ba. Và không bao giờ được đặt tiêu điểm vào ngay điểm chết nằm chính giữa!

3) Nhất định phải đa dạng về màu sắc, cấu trúc lá và chiều cao, bằng không, bạn sẽ kết thúc với một bức tường đơn điệu gồm những cây giống hệt nhau chạy dọc theo chiều rộng bể.

Để nhấn mạnh đến độ tương phản, hãy tạo không gian trống giữa những bụi cây và hàng cây cao dần lên (chúng được gọi là “con đường” hay “lối mòn”) nhằm gia tăng chiều sâu. Việc tạo ra những “khe hở” (những bụi cây rời rạc, hay bụi cây có khoảng trống giữa các lá cho phép bạn nhìn thấy phần hậu cảnh ở phía sau) cũng gia tăng cảm giác về chiều sâu. Mặc dù màu sắc và độ tương phản rất quan trọng nhưng nếu áp dụng thái quá thì có thể làm rối mắt và lấy đi cảm giác cân bằng và nhất quán.

4) Bể thủy sinh Hà Lan không có nhiều khoảng trống. Tối thiểu 80 phần trăm nền hồ phải được trồng cây thủy sinh .

Bể thủy sinh phong cách Hà Lan

Con đường Hà Lan

Rất nhiều loài cây truyền thống có thể được dùng vào mục đích đặc biệt này. “Con đường” Hà Lan là mảng cây mọc thấp được bố trí dưới một góc nhìn và cao dần lên về một bên nhằm tạo ra chiều sâu. Saurus cernuus và Lobelia cardinalis là những loài thường được sử dụng nhất. Khi cây mọc quá cao, chúng đơn giản được thay bằng cây khác thấp hơn.

Một số người thậm chí còn có bể ươm riêng những loài này ở nhiều kích thước chiều cao để dùng đến khi cần. Những năm gần đây, một phiên bản nhỏ hơn của loài Lobelia cardinalis đã xuất hiện ngoài thị trường.

Bụi cây

Hồ liễu lá hẹp Hygrophila corymbosa cũng như Limnophila aquatica thường được sử dụng làm bố cục trong hàng thập kỷ qua. Chúng là những loài cắt cắm cỡ lớn (large-stem plant) tạo ra hiệu ứng thị giác mạnh và mọc nhanh. Bằng việc thường xuyên tỉa cành khi chúng mọc quá cao và trồng lại, chúng vẫn mạnh khỏe và rậm rạp, và luôn duy trì được hình ảnh mong muốn.

Những loài tiêu thảo Cryptocoryne spp. nhỏ chẳng hạn như wendtii, becketti, lucens, lutea và walkeri thường được trồng thành bụi và hàng từ tiền đến trung cảnh. Màu sậm như đất của chúng đem lại sự tương phản thích hợp và một khi được trồng, chúng không đòi hỏi phải chăm sóc gì trong nhiều năm trời.

Để tạo màu sắc nổi bật, huyết tâm lan Alternanthera reineckii, Ammania và vảy ốc Rotala là những loài luôn được ưa chuộng. Ludwigias và Eusteralis stellata (aka Pogostemon stellatus) đôi khi cũng được sử dụng.

Những loài tạo tiêu điểm khác có thể là cây lá kiếm (swordplant), sen hổ (tiger lotus), Aponogetons và những cây lá to đứng riêng rẽ. Hiếm khi nào bạn thấy có nhiều hơn một cây lớn xuất hiện trong bể thủy sinh Hà Lan.

Java moss thường được sử dụng để tạo tông màu tối giữa những bụi cây và đôi khi đóng vai trò như một tiêu điểm thực sự bên trên một khúc lũa.

Tiền cảnh bể thủy sinh Hà Lan rất tinh tế. Nó phải gọn gàng, ngăn nắp và hòa nhập với hậu cảnh. Nó có thể gồm những bụi cây tương phản nhưng phải khác loài và không bao giờ được trồng lẫn lộn trong một bụi. Đôi khi bụi cây tiền cảnh trở thành hay hòa nhập vào một con đường dốc lên. Những loài lá cỏ cỡ nhỏ như Echinodorus tenellus thường được trồng cạnh với nhóm tiêu thảo Cryptocorynes và con đường.

Cây mới 

Những loài cây mới bắt đầu xuất hiện trong các kiểu bố cục truyền thống.

Tôi ngạc nhiên khi thấy loài Pogostemon helferi trong hồ của bậc thầy Hà Lan Fred van Wezel. Loài cây này mới được phát hiện ở Thái Lan vài năm trước đây, nơi chúng được gọi là Dou noi, nghĩa là “sao nhỏ”. Nó có dạng lá khá độc đáo và khi được trồng thành bụi thì sẽ tạo ra một tiền cảnh thú vị. Dưới nguồn sáng mạnh, loài cây này bò sát và không nảy thân bò với cây con. Dưới nguồn ánh sáng yếu, nó sẽ mọc cao hơn.

Ngoài môi trường tự nhiên, cây mọc trong nền đất sét giàu sắt và carbonat can-xi, điều khiến chúng trở nên lý tưởng đối với bể thủy sinh và không gây rắc rối cho người chơi thủy sinh. Cây sao nhỏ Pogostemon helferi hiện chỉ mới bắt đầu xuất hiện ở Mỹ.

Bể sử dụng chủ yếu là cây cắt cắm

Đắp bờ

Đắp bờ (terracing) là một phần của bể thủy sinh Hà Lan nhưng được thực hiện theo một nguyên tắc đơn giản. Ở đa số vị trí, nền thường được nâng lên chỉ bằng cách sử dụng lũa. Cây cũng được ghép vào lũa chỉ với mục đích tạo ra ảo giác của một nền dốc lên.

Trong những bố cục công phu hơn, bức tường cây được trồng dọc theo mặt kiếng trên những tấm gỗ bần hay thậm chí vỏ bần (corkbark). Bờ được tạo ra với một mục đích đặc biệt là gia tăng chiều sâu và gắn liền với một góc nhìn hay “con đường”.

Mỗi người chơi bể thủy sinh Hà Lan giỏi sẽ đem lại cho khán giả một phối cảnh riêng phụ thuộc vào vị trí quan sát của họ: bên trái, bên phải hay chính giữa.

Dụng cụ

Ở Mỹ, “Bể thủy sinh Hà Lan” là một cách diễn tả mà nó có nghĩa rằng: một bể thủy sinh không có bộ lọc, ánh sáng dịu hay tự nhiên và không có hay có rất ít thiết bị phụ trợ. Tôi không rõ cách hiểu này bắt nguồn từ đâu. Điều đó có thể đúng vào thế kỷ trước nhưng hiện giờ thì không.

Người chơi thủy sinh ở Hà Lan cũng sử dụng thiết bị giống như chúng ta. Lượng chiếu sáng có thể không mạnh bằng những hồ cao cấp ở Mỹ và đèn huỳnh quang thường được sử dụng, nhưng bộ lọc thùng là hệ thống lọc phổ biến nhất và CO2 được phun ở tầm từ 15 đến 20 ppm. Nền đất sét hay laterite được sử dụng và phân bón chứa sắt và khoáng chất được bổ sung một cách thường xuyên. Một số người tự trộn phân nước để dùng riêng, trong khi những người khác sử dụng các sản phẩm thương mại.

Một bậc thầy Hà Lan

Willem van Wezel là một trong số những bậc thầy đáng kính của nghệ thuật truyền thống này mà tôi may mắn được tiếp chuyện. Van Wezel đã 58 tuổi và bắt đầu dự thi từ năm lên 18 tuổi. Ông từng đoạt một loạt chức vô địch cấp câu lạc bộ, một vài chức vô địch quận và hai lần đoạt hạng nhì ở giải quốc gia. Anh trai và hai người bác đã hướng dẫn ông, nhưng ông nhanh chóng tự phát triển phong cách riêng của mình. Và ông đã truyền nghệ thuật truyền thống này cho người con trai 33 tuổi tên Fred, người đoạt giải vô địch tại câu lạc bộ của mình sau 4 năm theo đuổi thú chơi.

Van Wezel là thành viên tích cực trên một diễn đàn Hà Lan có tên “Veni Vidi Vissie”, nơi ông cố gắng giúp đỡ những người trẻ tuổi có niềm đam mê với thú chơi. Ông cũng viết bài cho một tạp chí Hà Lan, The Aquarium.

Tương lai

Tương lai của nghệ thuật bố cục truyền thống Hà Lan sẽ ra sao? Đa phần thí sinh dự thi hiện nay đều đã trên 50 tuổi. Theo Willem và những người khác mà tôi trao đổi, thế hệ trẻ không có đủ kiên nhẫn và thời gian để duy trì những bể thủy sinh kiểu này. Trên thực tế, một bậc thầy nói với tôi rằng nếu một người muốn theo đuổi nghệ thuật truyền thống này, họ không thể trở thành cao thủ sau vài thập kỷ đầu tiên! Ngày nay, những người trẻ tuổi dường như không thể đợi nổi vài tháng, nói chi đến vài thập kỷ.

Dẫu vậy, Willem van Wezel cũng chẳng mấy băn khoăn. Ông đang có quá nhiều niềm vui. “Tôi thay đổi trình bày (layout) khoảng bốn, năm lần mỗi năm. Tôi thực sự thích thay đổi trình bày bởi vì đấy là cách rèn luyện rất tốt để tham dự các cuộc thi. Làm việc với bể thủy sinh giúp tôi thư giãn”.

“Trình bày đẹp nhất mà bạn tạo ra là trình bày mà bạn cảm thấy hài lòng nhất. Tôi chính là người chiêm ngưỡng nó quanh năm suốt tháng, do đó người cần được thỏa mãn nhất chính là tôi”.

Thủy sinh Hà Lan có những tiêu chuẩn bố cục riêng

Nuôi Tép Kiểng Nước Ngọt

1.Đặc điểm sinh sống của tép cảnh

Kinh nghiệm cho thấy các loại tép nước ngọt thích hợp với nước cứng, tép Châu Á thích PH từ 6.8-8, nếu thấp hơn, chúng dễ bị Stress và chết.
[​IMG]
Nuôi chung với tép?:D:D:D:D:D
Tất nhiên là ta có thể nuôi chung cá với tép, nhưng vấn đề là, nếu cá dữ và lớn, thì nó sẽ ăn những con tép nhỏ, thậm chí với tép lớn, nếu không bị ăn, thì luôn có xu hướng trốn biệt tăm. vậy thì tốt nhất, ta nên nuôi các loại tép nhỏ với những thứ cá nhỏ hiền lành như heterandra Formosa, Barbus Jae, cá tetra nhỏ, hay những con đại loại như vậy. Tép có kích thước lớn chút như Amano(Cridina Japonica) hoặc kha khá như loài Macrobachium(giống tép xanh VN) thì có thể nuôi chung với những loại cá lớn hơn một chút, như cá kiếm, platy. Ngược lại, những con Macrobachium lớn như loại đốm đỏ, càng đỏ, bắt buộc phải nuôi riêng, vì nó có thể gắp bắt, và ăn cá dễ như bỡn! một trong những thứ cá đứng đầu danh sách cấm nuôi chung với tép là những con cichlid! Hừm..nói đi nói lại, thì tốt nhất là nuôi tép trong hồ riêng!
Nuôi nhiều loại tép chung với nhau:
Nghe có vẻ dễ, nhưng thật ra, nuôi tép chung với nhau cũng khó chả kém gì việc đắn đo và lựa chọn khi nuôi chung với cá! đơn giản nhất, ta có thể nghĩ rằng: để tránh việc con lớn ăn thịt con nhỏ, thì ta nên nuôi những loại tép nhỏ chung với nhau! thế nhưng….gay go nhất là tép có thể lai với nhau! Phân loại của lũ tép không đơn giản, và thường rất khó xác định, vì có khi hai con cùng loài, nhưng nhìn khác nhau rất nhiều! Lấy ví dụ: con Red Cherry và con Blue pale Taiwan là cùng loài(Neocaridina denticulata sinensis var. red and Neocaridina denticulata sinensis, respectively), có thể lai với nhau, con tép Ong và con Crystal red cũng là cùng loài(Neocardina serrata and Neocardina serrata var. crystal red), và cũng có thể lai với nhau! Thật không lường trước được là bao nhiu con tép nhìn khác nhau như thế có thể lai với nhau…nhưng một khi con lai của nó thể hiện là một loại có càng(long-arm) thì thật là tai hoạ! loại tép có càng(Macrobrachium spp.) nhanh chóng sẽ trở thành sát thủ trong bể, và sẽ ăn không thương tiếc những con tép nhỏ khác!

[​IMG]

2. Bể nuôi tép:

Thật ra mình có thể nuôi tép trong bất cứ bể nào, và bể không đòi hỏi phải lớn, chỉ khoảng 2,5 gallon là okie! nếu tép lớn hơn thì đòi hỏi bể lớn hơn một chút! khi set up, nên chú ý, cần có nhiều lũa, cây bụi, và rêu cá đẻ!thế là đủ!
[​IMG]

3. Cho ăn:

Thật ra, thức ăn của tép phụ thuộc rất nhiều vào loài của chúng. Ngay cả khi ngoài thiên nhiên, bọn này là thứ ăn tạp! Vậy thì ta nên chú ý:với những con trong nhóm Cảidina/Neocaridina, ta nên hạn chế tối đa cho ăn thức ăn có màu xanh(rêu, tảo..túm lại là những món có màu xanh^”^), con Pearl(tép trân châu: Macrobrachium luzifugum) là một con ăn thức ăn tầng đáy cực tốt, ta có thể cho nó ăn mồi sống, hoặc flake thì lý tưởng hơn! Những con tép có càng dài thì ta cho ăn trùn huyết là tốt nhất! loại Atya là những con ăn bằng cách lọc nước qua miệng, vì thế, cho nó ăn với những thức ăn nhỏ lơ lửng trong nước. Dù sao..đây cũng không phải quy tắc, ta nên tập cho chúng ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, càng ăn được nhiều loại thức ăn, tép càng khỏe mạnh.:):):):):)
[​IMG]

Nguồn: Sưu Tầm

Danh mục các loại rêu thủy sinh

  1. Nano Moss Amblystegium serpens [​IMG]
  2. Phoenix Moss – US Fissidens Fissidens fontanus[​IMG]
  3. Phoenix Moss Fissidens sp. from Singapore[​IMG]
  4. Willow Moss Frontinalis antipyretica [​IMG]
  5. Mini Taiwan Moss Isopterygium sp.[​IMG]
  6. Stringy Moss Leptodictyum riparium[​IMG] [​IMG]
  7. Java Moss Taxiphyllum barbieri
    [​IMG]
  8. Flame Moss Taxiphyllum sp.
    [​IMG]
  9. Giant Moss Taxiphyllum sp.[​IMG]
  10. Green Sock Moss Taxiphyllum sp.[​IMG]
  11. Peacock Moss Taxiphyllum sp. [​IMG]
  12. Spiky Moss Taxiphyllum sp. [​IMG]
  13. String Moss (Japan Moss) Taxiphyllum sp. [​IMG]
  14. Taiwan Moss Taxiphyllum alternans
    [​IMG]
  15. Singapore Moss Vesicularia dubyana [​IMG]
  16. Weeping Moss Vesicularia ferriei [​IMG]
  17. Christmas Moss Vesicularia montagnei
    (Vesicularia dubyana var. abbreviata)[​IMG]
  18. Erect Moss Vesicularia reticulata [​IMG]
  19. Creeping Moss Vesicularia sp. [​IMG]

Nguồn http://www.aquamoss.net

Sơ lược về cây thủy sinh – rêu

[​IMG]

Sơ lược về rêu

Rêu (moss) là một trong những loài thực vật yêu thích nhất của tôi trong hồ thủy sinh. Chúng rất dễ trồng và xinh đẹp. Rêu hiện diện trong đủ mọi thể loại hồ thủy sinh, từ hồ thủy sinh châu Á, hồ thủy sinh Hà Lan cho đến loại hồ cảnh gia đình đơn giản nhất. Rêu mang lại sự duyên dáng và thực tế cho hồ cảnh. Rêu rất dễ trồng trên đá hay lũa để tạo quang cảnh tự nhiên, hay làm hậu cảnh cho hồ. Nó có thể được cắt tỉa để tạo dáng. Rêu cũng được dùng trong việc lai tạo cá và nó cung cấp nơi tìm kiếm thức ăn, trú ẩn và phát triển cho cá và tép nhỏ.

Rêu cũng là một trong những loài thực vật thú vị. Chúng được xem là loài thực vật thực sự đầu tiên, và vì vậy nằm trong nhóm được gọi là thực vật sơ khai.

Sinh vật quang hợp đầu tiên xuất hiện trong vùng biển cổ đại cách nay khoảng 4 tỷ năm. Các loài thực vật trên cạn chưa hề xuất hiện mãi cho đến khoảng 500 triệu năm trước. Thực vật, bao gồm cả rêu, được cho là tiến hóa từ tảo lục (ngành Chlorophyta). Giữa chúng có rất nhiều đặc điểm chung; tảo lục và thực vật đều sử dụng diệp lục tố. Vách tế bào của hầu hết các loài tảo lục và thực vật đều được tạo ra bởi chất xơ (cellulose). Cả hai đều dự trữ đường (carbohydrate) dưới dạng tinh bột.

Tuy các bằng chứng vật thể rất hiếm bởi bản chất tự nhiên dễ phân hủy của tảo và thực vật, nhưng dường như một trong những loài tảo lục dạng sợi (có lẽ là tảo tóc – hair algae) là loài đầu tiên tiến lên đất liền.

Những loài thực vật tiến hóa sớm nhất còn tồn tại cho đến ngày nay vốn được xếp vào cùng một nhóm gọi là bryophytes (thực vật không mô mạch). Chúng bao gồm rêu (moss), rêu tản (liverwort) và rêu sừng (hornwort) (đừng nhầm với cây rong đuôi chó “hornwort”, Ceratophyllum demersum). Tất cả bryophytes đều không có mô mạch. Điều đó có nghĩa rằng chúng không có hệ mạch dẫn mà thực vật bậc cao dùng để vận chuyển nước và chất dinh dưỡng đi khắp toàn thân. Dẫu ba loại bryophytes có những điểm tương đồng và hiện vẫn được xếp cùng nhóm, nhưng những phát hiện gần đây cho thấy chúng không có quan hệ gần gũi và rằng rêu gần với định nghĩa về thực vật không mao mạch hơn cả.

Để sống trên mặt đất, thực vật đã phát triển cách giữ nước ở tế bào và sinh sản trong môi trường mới. Rêu không giống như hầu hết các loài thực vật mà chúng ta quen thuộc. Cấu trúc tí hon giống như lá của chúng là một tế bào duy nhất với một gân chính, nhưng không phải là lá thực sự. Phần tăng trưởng giống như rễ được gọi là rễ giả (rhizoid). Rễ và lá giả của rêu vốn thiếu cấu trúc của rễ và lá thực sự.

Rêu không có hạt mà thay vào đó là bào tử (spore) nên không cần sự trợ giúp của côn trùng. Chúng không tạo phấn hoa để sinh sản thế hệ kế tiếp. Sinh sản của rêu cần đến nước. Thường thì hơi sương hay một vài giọt nước cũng đủ để hầu hết các loài rêu trên cạn tồn tại.

Rêu thủy sinh cũng có thể tạo ra bào tử nhưng đa phần đều sinh sản vô tính, đặc biệt là trong hồ thủy sinh. Chỉ một nhúm rêu cũng có thể phát triển thành một bè lớn.

Có gần 10 ngàn loài rêu (moss) được phát hiện. Chúng nhìn chung được chia thành 3 lớp; rêu đen (granite moss) Andreaeopsida, rêu chính hiệu (true moss) Bryopsida, và rêu mùn (peat moss) Sphagnopsida. Có một số tranh cãi về nhóm Takakia, loại rêu hình cây, nên thuộc về lớp Andreaeopsida hay phân thành một lớp riêng. Những loài rêu quen thuộc trong hồ cảnh đều thuộc về lớp Bryopsida.

[​IMG]

[​IMG]

Rêu trong hồ cảnh
Rêu mọc rất dễ dàng trong hồ cảnh. Chúng thích nghi với nguồn sáng yếu cũng như mạnh, và mọc trên bất kỳ thứ gì, thậm chí cả trong hồ trống. Rêu có thể được gắn lên đá và lũa trong hồ cảnh. Rêu mọc giữa các loài cây khác, khiến hồ trông rất bắt mắt. Bạn cũng có thể tạo ra một bức tường rêu để làm hậu cảnh cho hồ. Thông thường, lưới hay lưới nhựa được sử dụng. Rêu được kẹp giữa hai lớp lưới và gắn vào mặt kiếng sau hồ, đôi khi được gắn vào mặt bên.

Có ba loài rêu phổ biến nhất ở Mỹ. Chúng là rêu java, rêu giáng sinh (christmas tree) và rêu willow (Fontinalis).

Mãi đến tận gần đây, rêu java (Vesicularia dubyana) là loài rêu thủy sinh phổ biến nhất ở thị trường Mỹ. Nó mọc nhanh và thích nghi với bất kỳ điều kiện nào. Tôi thấy nó vẫn mọc, dù chậm hơn, dưới bóng đèn tròn. Lá của rêu java nhỏ hơn và trông không bắt mắt bằng các loại rêu thủy sinh khác. Nó thường có màu xanh sẫm.

Rêu willow được sử dụng trong hồ cảnh sớm hơn cả. Nó là loài nội địa. Có nhiều loại rêu khác nhau dưới một tên chung Fontinalis. Có hơn 50 loài rêu thủy sinh thuộc các họ khác nhau được phát hiện chỉ riêng ở Mỹ. Mặc dù một số trong đó thích nghi với môi trường hồ cảnh, chúng thường khó trồng hơn so với rêu java và rêu giáng sinh. Nhiều loài dường như chuộng nước lạnh hơn so với nước hồ bình thường. Loài rêu willow mà tôi trồng rất mỏng manh và xinh xắn, với lá to hơn rêu java nhưng nhỏ hơn so với rêu giáng sinh.

Rêu giáng sinh tương đối mới hơn, ít ra là ở Mỹ. Rêu này có tên như vậy bởi vì tán lá trông giống như cây giáng sinh. Nó mọc rất mạnh và nhanh chóng trở thành một đám xanh lớn. Xét trên nhiều phương diện, nó là loài rêu thủy sinh hấp dẫn nhất với lá to và tươi tốt.

Tỉa rêu rất dễ. Bạn chỉ cần xén bớt phần nào không thích. Cách tốt nhất là dùng hai tay, một tay giữ rêu và tay kia ngắt bỏ phần thừa. Nếu bạn chỉ tỉa bớt một chút thì làm một tay cũng xong. Phần rêu lấy ra có thể dùng cho hồ khác hay tặng bạn bè. Rêu rất phổ biến trong các cuộc đấu giá cá cảnh và một số tiệm sẽ mua phần rêu dư ra của bạn. Bạn cũng có thể dùng kéo để tỉa rêu nếu muốn.

Bạn cần tỉa rêu thường xuyên; chúng sẽ mọc cho đến khi trở thành loài độc tôn trong hồ nếu bạn để điều này xảy ra. Rêu nhanh chóng mọc đè lên cây khác nếu bạn không tỉa bớt.

Khi đám rêu dày lên tôi thường tỉa bớt một chút để chúng xẹp xuống. Đôi khi chúng trương khí bên trong và nổi lên, và đôi khi chúng mọc liên tục cho đến khi có quá nhiều. Mặt tiêu cực của việc đè chúng xuống bên dưới ở chỗ, rêu dưới đáy không nhận đủ ánh sáng và chết, để lại một đám cây chết bên dưới. Cũng tốt nếu thỉnh thoảng đè đám rêu xuống. Nhưng cần lưu ý về vấn đề này và không lạm dụng quá. Nhớ thỉnh thoảng nhấc đám rêu lên khi bạn vệ sinh hồ và hút sạch vùng bên dưới.

Rêu là một trong những loài cây thủy sinh dễ trồng nhất, cực kỳ hữu dụng và hấp dẫn. Chúng cũng có một lịch sử sinh học thú vị kể cả những bí mật của riêng mình. Tôi hy vọng bạn sẽ cân nhắc trồng thử chúng trong hồ thủy sinh của mình.

[​IMG]

*Video hướng dẫn cách buộc rêu

Nguồn: Sưu tầm

Hồ thủy sinh mở

[​IMG]

Hồ mở (open aquarium) – loại hồ không có nắp đậy – với đèn treo từ phía trên mở ra không gian mới so với hồ truyền thống và làm nổi bật những loài thực vật có hoa đẹp. Nó có làm phòng thêm ẩm ướt? Lá cây có bị khô đi hay không? Điều gì xảy ra với cá nuôi trong hồ?

Tôi rất thích hồ mở! Nó tạo ra không gian mới cho hồ cảnh và phòng khách. Chúng ta có thể quan sát lá của các loài thực vật nổi, hoa của cây cảnh như bông súng và nhiều loại cây cảnh lưỡng cư phát triển vươn ra khỏi mặt nước nơi chúng tạo ra hiệu quả trang trí ấn tượng. Tuy nhiên, hồ mở có thể tác động đến khí hậu bên trong nhà nhiều hơn là hồ cảnh truyền thống.

Độ ẩm không khí: một ví dụ đáng sợ xuất phát từ một người chơi cá cảnh sở hữu một hồ mở 800 lít trong phòng 16 m2. Anh ta nuôi cá đĩa và duy trì nhiệt độ nước ở 28 độ C. Có vấn đề nảy sinh bởi vì kích thước của hồ quá lớn và một lượng lớn hơi nước được hình thành do sự chênh lệch về nhiệt độ giữa phòng và hồ cá. Giấy dán tường bị ẩm mốc còn cửa kiếng luôn bị đọng hơi nước. Hồ mở sẽ không hề gây ra ẩm ướt nếu các vấn đề sau đây luôn được quan tâm. Diện tích mặt hồ không được vượt quá 2% diện tích phòng. Do đó, với phòng có diện tích 40 m2, hồ mở không thể có thể tích trên 500 lít. Sai lệch về nhiệt độ giữa nước và không khí không được vượt quá 5 độ C để sự bốc hơi là tối thiểu. Chúng ta từng thấy vấn đề này trong phòng không được sưởi ấm vào mùa đông bởi vì hơi nước tăng lên rất nhiều do sự sai biệt về nhiệt độ. Cũng nên thông thoáng phòng để đảm bảo không khí trong nhà được trong lành. Cuối cùng, thực vật nổi mọc quá mặt nước sẽ làm giảm bớt hơi nước trong phòng vì chúng tạo ra một lớp cách ly của khí ngưng tụ! Nếu để ý đến các điểm này, độ ẩm chỉ tăng lên 5%.

Tôi đã tham khảo kết quả nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học về vấn đề sức khỏe liên quan đến độ ẩm không khí rằng con người không cảm nhận được sự biến thiên độ ẩm từ 30% – 70%. Khi không khí được cảm nhận là khô hay ẩm ướt trong tầm này được gây ra bởi những yếu tố khác chẳng hạn như là nhiệt độ, bụi hay khí rò rỉ từ các vật liệu trong phòng, chẳng hạn vật liệu xây dựng, thảm, sơn… Do đó, con người không thể cảm nhận được độ ẩm gây ra bởi hồ mở. Để so sánh, hoạt động của một người tạo ra từ 2.5 đến 3 lít nước một ngày (thở, ra mồ hôi, tắm, nấu ăn) và nếu hồ mở bay hơi từ 15 đến 20 lít nước một tuần (hồ từ 800 đến 1000 lít) thì chỉ tương đương với việc có thêm một người nữa cùng sống trong nhà. Vài người mắc bệnh dị ứng rất mẫn cảm với các phần tử hữu cơ siêu nhỏ và các chất thoát ra từ chúng. Nhưng các nghiên cứu gần đây cho thấy sự bùng phát của các phần tử hữu cơ siêu nhỏ này độc lập với độ ẩm. Các phần tử hữu cơ siêu nhỏ phụ thuộc vào tiểu khí hậu được tạo ra bởi lớp xơ, môi trường trú ngụ của chúng chứ không phải là độ ẩm. Hồ cảnh nói chung – cả hồ mở và hồ truyền thống – đã được thẩm định về vấn đề dị ứng và vài trường hợp đã cho những hiệu ứng tiêu cực nhưng không hề liên quan đến độ ẩm. Tất cả đều chỉ đến những nguyên nhân gián tiếp và riêng rẽ gây bởi sự rò rỉ, ví dụ như ẩm mốc trên lớp thảm trải sàn. Trong một vài trường hợp cực hiếm, có người bị dị ứng với trùng đỏ (red midgets, chironomids)* – dị ứng gây ra bởi tế bào hồng cầu. Qua nghiên cứu trên tiểu khí hậu trong nhà, có thể mạnh dạn kết luận rằng tác động của một hồ mở là hoàn toàn tích cực – cảm giác thư giãn và thoải mái một cách tự nhiên.

[​IMG]

Chiếu sáng: có thể sử dụng nhiều loại đèn khác nhau cho hồ cảnh. Có một vài bất lợi khi sử dụng đèn thế hệ mới trên thị trường vì chúng toả ra quá nhiều ánh sáng trong phòng mà không tập trung vào hồ cá nơi ánh sáng thực sự cần thiết cho sự phát triển của thực vật. Mặt khác nó có thể làm chói mắt người sống trong phòng tối và tạo nên cảm giác lạnh lẽo trong phòng. Những vấn đề đại loại như vậy gây ra bởi việc treo đèn quá cao, hay có thể là choá đèn hoạt động thiếu hiệu quả, không hội tụ được ánh sáng. Phải hạ thấp đèn xuống để ánh sáng chỉ chiếu lên mặt nước. Ở Đức, người ta sử dụng đèn kim loại ha-lo-gen nên rất ít ánh sáng thoát ra ngoài hồ. Đèn ha-lo-gen công suất nhỏ (rất thông dụng) có thể đem lại hiệu quả chiếu sáng tuyệt vời trên cây cảnh. Đặc biệt, chiếu sáng từ phía trước vào bên trong hồ là lý tưởng nhất – tạo màu sắc phản chiếu cho cả cá và cây cảnh. Tuy nhiên, loại đèn này thường kém hiệu quả với hồ lớn hơn 100 lít cần nhiều ánh sáng.

Thực vật lưỡng cư: lá của loại thực vật mọc qua khỏi mặt nước có thể bị héo nếu như độ ẩm của không khí quá thấp hay đèn đặt quá sát mặt nước. Những lá non có thể được xịt nước vài lần một ngày và sau đó chúng sẽ không gặp vấn đề gì nữa. Tuy nhiên, vài loại thực vật không thể đáp ứng với không khí khô trong phòng. Một số lượng lớn thực vật dành cho hồ cảnh – khoảng 50% – đặc biệt thích hợp với hồ mở. Tôi chỉ lưu ý vài loại mà tôi thích: rong lá trầu Echinodorus grandiflorus, Echinodorus cordifolius Echinodorus ‘Tropica Marble Queen’. ‘Tropica Marble Queen’ có màu xanh cẩm thạch khi vươn ra khỏi mặt nước và chịu khô rất tốt. Các loài thuộc chi Hygrophila và thực vật nổi sẽ phô bày tất cả vẻ đẹp của chúng khi được trồng trong hồ mở. Ngay cả các loài thực vật hoàn toàn chìm trong nước như rong mái chèo Vallisneria cũng trông đẹp hơn khi chiêm ngưỡng từ phía trên xuống.

[​IMG]

Ghi chú (VNRD)
* Trùng đỏ (midget) là côn trùng dạng muỗi. Ấu trùng của chúng được nuôi và đông lạnh làm thức ăn cho cá cảnh. Ở Việt Nam, giá một vỉ “trùng đỏ” đông lạnh từ 15-20 ngàn đồng.

Nguồn: Sưu tầm

Hồ thủy sinh Wabi-Kusa

[​IMG]

Cách đây hai năm, tôi nửa ngạc nhiên nửa do dự khi lần đầu nghe nói đến sản phẩm “Wabi-Kusa” (侘草 = sá thảo) của hãng ADA. Tạo ra nhu cầu thiết kế hồ thủy sinh dựa vào cây cỏ mọc tùy tiện trên hòn Wabi-Kusa hẳn là một ý tưởng có phong cách rất “tự nhiên”. Tôi cũng thảo luận với một số bạn hữu trong giới thủy sinh, những người không chỉ là nghệ sĩ mà còn yêu thích cá cảnh, bởi vì ý tưởng để cho mọi thứ tự nhiên có sức quyến rũ đặc biệt với những ai yêu thích chiêm ngưỡng ao hồ và bờ bụi hoang sơ.

Mặt khác, nó là cú đánh trực diện vào nhu cầu về đào luyện kỹ năng của người chơi thủy sinh. Thay vì dựa vào nhãn quan kinh nghiệm và năng lực bố cục, thì chỉ cần đặt hai hay ba hòn Wabi-Kusa vào hồ và thế là xong. Sẽ không thực lòng nếu nói rằng tôi không hề nghi ngại gì. Dẫu vậy, qua vài năm gần đây, mọi nghi ngại đã được vượt qua và tiềm năng ứng dụng Wabi-Kusa như một công cụ thiết kế là thực tế và hấp dẫn.

Với những ai chưa biết thì Wabi-Kusa là một sản phẩm của công ty Aqua Design Amano. Nó là một hòn được bao phủ bởi cây thủy sinh dưới dạng mọc cạn, rất giống với lối thủy canh thường thấy trong các trại nhân giống thủy sinh. Dù vậy, khác với cây thủy sinh thông thường, Wabi-Kusa thường được bao phủ bởi nhiều loài cây khác nhau và cố tình để mọc chen chúc, và không gắn vào nền mà được thả chìm trực tiếp vào hồ một cách tự nhiên. Wabi-Kusa có thể được thả vào một hồ thủy sinh hay bất kỳ vật chứa nào cùng với một ít nước để giúp cây duy trì trạng thái mọc cạn của chúng gần giống với kiểu trồng trong chậu đất. Dù cách nào thì kết quả cũng đều ấn tượng vì ý tưởng là tạo ra vẻ đẹp tự nhiên thông qua tính hoang sơ, “hỗn độn” với nhiều loài cây mọc chen chúc.

“Wabi-Kusa” bắt nguồn từ một quan niệm thẩm mỹ Nhật Bản “Wabi-Sabi” (侘寂 = sá tịch) mà nó đề cao vẻ đẹp hỗn mang của tự nhiên. “Kusa” có nghĩa là “cỏ”. Ngay từ những cuốn sách đầu tiên của mình, ngài Amano đã đề cập đến vấn đề phát hiện vẻ đẹp của cây cỏ, và đưa vẻ đẹp này vào tác phẩm. Dẫu chưa ai đem những bố cục kiểu này đi dự thi, nhưng tôi có thể khẳng định rằng chúng rất hấp dẫn và tươi mát.

Dù có thể kết hợp lũa và đá với Wabi-Kusa thành một cấu trúc phức tạp hơn nhưng thường thì ADA chỉ thiết kế Wabi-Kusa riêng rẽ. Một vài nhánh cây mọc thành cụm với phần dưới được đặt nằm một cách đơn giản trên nền cát, hay sử dụng Wabi-Kusa toàn trân châu nhật Glossostigma elatinoides để làm tiền cảnh.

Trong khi một bố cục toàn cây kiểu truyền thống có nguy cơ trải đều và đơn điệu (vì vậy, bố cục kiểu này chỉ dành cho các bậc thầy thuộc phong cách thủy sinh Hà Lan mà thôi), thì sự hỗn mang tuyệt đối của Wabi-Kusa, sự pha trộn giữa những cây thủy sinh độc đáo, đã phá vỡ tính đơn điệu một cách đáng kinh ngạc. Wabi-Kusa là một thương hiệu chất lượng, và thực sự nắm bắt được tinh thần Wabi-Sabi.

Có lẽ điều mà tôi thán phục nhất ở Wabi-Kusa là khả năng cho phép những người chơi thủy sinh thông thường hay những người yêu thiên nhiên tạo ra một bố cục xinh đẹp. Tôi luôn thấy việc phổ biến thú chơi đến đông đảo mọi người là một trách nhiệm quan trọng đối với cộng đồng thủy sinh. Tuy nhiên, để làm được điều này thực sự rất khó khăn. Thậm chí khi cây của bạn phát triển tốt, thì luôn có những trở ngại trong việc đạt được bố cục đẹp mắt và hoàn hảo. Nhưng với những sản phẩm thuộc dòng Do!Aqua giá phải chăng và dễ sử dụng của ADA, và sự tươi mát của Wabi-Kusa, công việc thiết lập một hồ xinh đẹp mà không đòi hỏi quá nhiều kỹ năng và kinh nghiệm, đã trở nên dễ dàng hơn. Với tôi, tiềm năng cuốn hút nhiều người chơi thủy sinh hơn là rất xác thực và đáng phấn khởi. Tôi đặt nhiều tin tưởng vào Wabi-Kusa trong tương lai.

[​IMG]

Nguồn: sưu tầm

Hồ thủy sinh Tonina

[​IMG]

Hồ thủy sinh Tonina (Tonina style) bắt nguồn từ vùng Đông Á như Nhật Bản, Hồng Kông và Đài Loan nơi số lượng người trồng “cây sao” hay “Hoshikusa” gia tăng đột biến. Thuật ngữ “cây sao” ám chỉ các loài cây thủy sinh thuộc họ Eriocaulaceae, trong các chi Tonina, Syngonanthus và cỏ dùi trống (cốc tinh thảo) Eriocaulon. Tất cả những loài cây này đều có màu xanh mướt, lá mỏng, mọc rậm rạp và tỏa ra từ cành chính trông tương tự như một chùm sao khi nhìn từ bên trên. Những loài cây khác với bề ngoài tương tự cũng được sử dụng trong hồ thủy sinh Tonina.

Cây thủy sinh họ Eriocaulaceae phát triển tốt nhất trong điều kiện nước mềm, nền và nước có tính a-xít và chúng sẽ bung khi được chiếu sáng mạnh và dòng chảy vừa phải. “Cây sao” có khuynh hướng nổi bật khi được trồng cạnh những cây thông thường khác. Vì chúng làm lệch hướng chú ý nên hiếm khi được trồng trong các hồ thủy sinh theo Phong cách Tự Nhiên vì vậy người chơi thể loại Tonina thường trồng chúng trong hồ “Siêu Phong cách Hà Lan” (super Dutch style) với một số yếu tố bố cục theo Phong cách Tự Nhiên nhưng hầu như không sử dụng đá và lũa. Thuật ngữ “Siêu Phong cách Hà Lan” có nghĩa cây được bố trí rậm rạp, theo từng bụi gọn gàng nhưng vẫn nỗ lực tạo ra chiều sâu và bố cục.

Đây là Hồ thủy sinh Tonina được thiết lập và quay phim bởi chính tác giả:

Nguồn: Sưu tầm

Hồ thủy sinh iwagumi và sanzon iwagumi

[​IMG]

Nghệ thuật sắp đặt iwagumi (thạch tổ – 石組) là một phần của phong cách thủy sinh Tự Nhiên (Natural Aquarium) mà Takashi Amano là người khởi xướng. Theo những nguyên tắc của hoa viên Nhật Bản, iwagumi có nghĩa là “xếp đá”. Đá tạo nên cấu trúc của hoa viên Nhật Bản và vì vậy, trong nghệ thuật sắp đặt iwagumi, đá đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Tương tự, bố cục và số lượng đá cũng rất quan trọng. Có nhiều kiểu sắp đặt iwagumi khác nhau được áp dụng cho hồ thủy sinh nhưng nguyên tắc chung luôn là sự mộc mạc và tĩnh tại.

[​IMG]

Kiểu sắp đặt iwagumi phổ biến nhất được gọi là sanzon iwagumi. Sanzon có nghĩa là “tam tôn” (三尊) và kiểu này sử dụng ba hòn đá, với một hòn lớn và hai hòn nhỏ hơn. Theo JAANUS (Japanese Architecture and Art Net Users System), thuật ngữ này xuất hiện lần đầu trong một tài liệu về hoa viên Nhật Bản vào thế kỷ thứ 11 có tên Sakuteiki (tác đình ký – 作庭記). Cách sắp xếp đá bắt nguồn từ đạo Phật; hòn đá trung tâm được gọi là chuusonskei (trung tôn thạch – 中尊石) (hay Đại Phật) và hai hòn đá kế cận nhỏ hơn được gọi là kyoujiseki (hiếp thị thạch – 脇侍石) (hay đá hầu cận). Đá hầu cận thường được đặt hướng vào đá trung tâm như thể chúng đang bái lạy trước nó. Đá trung tâm hầu như luôn được đặt theo Tỷ Lệ Vàng (Golden Ratio).

[​IMG]

Những kiểu sắp đặt iwagumi khác ít phổ biến hơn, nhưng luôn sử dụng số lẻ đá với nhiều kích cỡ khác nhau. Trong lãnh vực thủy sinh, iwagumi được bổ sung thêm một số chi tiết. Hồ thủy sinh iwagumi chỉ trồng một loại thực vật thảm duy nhất (thường là trân châu nhật – glosso, ngưu mao chiên hay trân châu cuba Hemianthus callitrichoides) và một đàn cá thuộc về một loài duy nhất (thường là tetra mõm đỏ, neon đỏ và lòng tong tam giác). Điều này bổ sung thêm cảm giác mộc mạc cho cảnh quan.

[​IMG]

Nhiều người cho rằng việc chăm sóc và duy trì một hồ thủy sinh iwagumi sẽ đơn giản hơn so với các hồ khác. Trên thực tế, nó khó khăn hơn nhiều vì số lượng thực vật hạn chế chỉ một loài và lượng chiếu sáng mạnh. Thực vật thảm thường phát triển chậm và không tiêu thụ nhiều chất dinh dưỡng. Do đó, bước đầu thiết kế và duy trì sự cân bằng cho hồ thủy sinh iwagumi là một trong những thách thức lớn nhất đối với người chơi. Tảo thường bùng phát và cây thủy sinh cành không hiện diện để lọc nước và đem lại sự cân bằng cho hồ. Thay vào đó, bạn phải thử đi thử lại nhiều lần để diệt tảo và tìm ra mức độ bón phân thích hợp. Đa số đều thả tép Amano hay những loại tép ăn tảo khác. Hồ thủy sinh iwagumi hoàn toàn không phù hợp với người mới chơi, nhưng là một trong những cảnh quan xinh đẹp và bình an nhất.

Nguồn: Sưu tầm

Thiết lập hồ thủy sinh tự nhiên

[​IMG]

VNRD: Diana Walstad cũng là tác giả cuốn sách nổi tiếng Hệ sinh thái trong Hồ Thủy Sinh (Ecology of the Planted Aquarium). “Hồ thủy sinh tự nhiên” hay còn gọi là “hồ low-tech” nhấn mạnh đến việc ứng dụng triệt để các “quy trình tự nhiên” (natural processes) để mang lại trạng thái cân bằng cho hồ thủy sinh với liều lượng chiếu sáng, lọc ở mức độ vừa phải kết hợp với nền tự trộn. Đây là cách thức duy nhất để duy trì hồ thủy sinh trong cả thế kỷ trước khi các dụng cụ thủy sinh chuyên dụng xuất hiện, tuy nhiên Diana đã đưa nó lên một tầm cao mới với những kiến giải sâu sắc về sinh học. Lưu ý phân biệt khái niệm “hồ thủy sinh tự nhiên” (natural planted aquarium) với “phong cách thủy sinh tự nhiên” (Nature Aquarium) do Takashi Amano khởi xướng, nhấn mạnh đến việc mô phỏng phong cảnh tự nhiên kết hợp với bố cục chặt chẽ.

Thiết lập hồ thủy sinh tự nhiên
Diana Walstad

Bí quyết căn bản của một hồ thủy sinh tự nhiên bao gồm lớp đất nền, độ cứng trung bình, cây thủy sinh đa dạng và chiếu sáng đầy đủ. Tuy đơn giản nhưng bí quyết này có thể áp dụng cho nhiều hồ thủy sinh kể cả loại hồ có bố cục tinh tế. Đa phần cây thủy sinh trong những hồ cao cấp (high-tech) như vậy thường phát triển vượt bậc nhưng lại bỏ qua các quy trình tự nhiên và yêu cầu chăm sóc cần thiết; ngược lại, hồ thủy sinh tự nhiên áp dụng các quy trình tự nhiên một cách triệt để. Chẳng hạn, quá trình phân hủy chất hữu cơ của vi khuẩn làm phát sinh CO2 một cách tự nhiên, không phải là CO2 nhân tạo. Và chất thải của cá, chứ không phải phân bón hóa học, cung cấp chất dinh dưỡng cho cây và làm đất nền màu mỡ.

Các loại đất nền
Đất nền là vấn đề mấu chốt đối với hồ thủy sinh tự nhiên. Nó cung cấp CO2 để đảm bảo cây phát triển tốt và cung cấp chất dinh dưỡng cho rễ, giúp cây có lợi thế cạnh tranh với tảo. Tuy nhiên, việc sử dụng đất nền trong hồ thủy sinh có thể là vấn đề. Mục tiêu đầu tiên của người chơi hầu như là tìm kiếm loại đất nền hoàn hảo nhưng không hề có loại nào như vậy hết. Trong nhiều năm trời, tôi thường sử dụng những loại đất nền không lý tưởng lắm (chẳng hạn đất chứa nhiều đất sét, đất trồng cây giàu phân bón). Tôi đã sai khi cho rằng đất nền càng giàu phân bón thì cây càng phát triển tốt. Như vậy, những nền dưới-mức-lý-tưởng này sẽ ổn định sau vài tháng và hoạt động cực tốt trong nhiều năm trời.

Những loại nền thương mại nhìn chung không phù hợp với hồ thủy sinh tự nhiên bởi vì chúng được thiết kế cho những hồ cao cấp với đầu phun CO2, phân hóa học và không chứa nhiều thành phần hữu cơ để cung cấp đủ CO2 cho cây. Trong hồ thủy sinh tự nhiên, vi khuẩn phân hủy chất hữu cơ và tạo ra CO2 hòa tan trong nước. Khi thiết lập một hệ thống như vậy, mọi người hoàn toàn có thể thấy hiện tượng bong bóng khí CO2 thoát ra từ nền đất.

Đất trồng cây không chứa phân bón gây rất ít vấn đề khi bắt đầu và đem lại kết quả tốt nhất về lâu dài. Tôi hiện đang sử dụng một loại đất trồng cây hữu cơ tổng hợp rất phổ biến và chứa những thành phần dinh dưỡng cơ bản. Bởi vì loại đất trồng cây đặc biệt này là loại hữu cơ, nên nó không hề chứa phân hóa học vô cơ.

Phân vô cơ có thể gây ra những vấn đề nghiêm trọng đối với hồ thủy sinh tự nhiên. Chẳng hạn, khi đất trồng cây nằm trong nước, những chất hóa học chứa nitrate (chẳng hạn KNO3 và NH4NO3) sẽ nhanh chóng chuyển thành chất nitrite độc hại. Phân hóa học chứa sulfate (chẳng hạn K2SO4, (NH4)2SO4…) sẽ chuyển hóa thành H2S, loại khí có mùi trứng thối làm chết rễ cây và đe dọa các loài cá ăn đáy. Phân hóa học có thể thích hợp đối với các loại hồ cao cấp nhưng chúng có thể gây ra những vấn đề nghiêm trọng đối với hồ thủy sinh tự nhiên.

Một loại phân mà đôi khi tôi trộn với đất nền đó là hỗn hợp bột xương. Nó chủ yếu cung cấp phốt-phát và can-xi dưới dạng hữu cơ với tốc độ nhả chậm, điều có lẽ kích thích rễ tăng trưởng. Tuy nhiên, tôi chưa từng thử nghiệm loại phân này một cách nghiêm túc và cây dường như vẫn phát triển bình thường dẫu không có nó.

Đất trồng cây hữu cơ không làm nước quá đục do đó giúp hạn chế tần suất thay nước trong giai đoạn thiết lập hồ. Hơn nữa, đất phân rã nhanh hơn so với một số loại đất trải bề mặt thông thường mà một số tiệm có bán. Khi tôi sử dụng một trong số loại đất trải bề mặt này, một màng dầu mỏng xuất hiện trên mặt nước sau ba tuần và một số cá bị chết. Tôi ngờ rằng vụn gỗ tươi tiết ra một số tinh dầu bảo vệ (có lẽ là tinh dầu tuyết tùng, nhựa thông…). Để đảm bảo an toàn cho cá, tôi phải thay nước sau mỗi một đến hai tuần trong hai tháng đầu tiên. Rất nhanh sau đó, hồ trở nên ổn định và hiện giờ không còn vấn đề nào nữa.

[​IMG]

Chọn đất nền
Mọi người nên biết rằng nền đất trồng cây trở nên yếm khí nhanh hơn nhiều so với nền giàu đất sét, nền pha đất sét hay nền toàn sỏi. Đấy là bởi vì đất trồng cây chứa nhiều thành phần hữu cơ để vi khuẩn tiêu thụ (tức phân hủy). Quá trình phân hủy tiêu thụ ô-xy và làm cho đất trở nên yếm khí. Do đó, mọi người không nên bố trí lớp đất trồng cây quá dày hay ngăn cản sự trao đổi ô-xy bằng cách đặt lũa, đá hay trải một lớp sỏi hoặc cát dày. Việc hình thành những túi yếm khí sẽ ngăn cản cây tăng trưởng và tạo ra những chất độc hại đối với cá.

Đất trồng cây sẽ hút ô-xy hòa tan trong nước, đặc biệt là trong từ hai đến tám tuần đầu tiên khi sự phân hủy chất hữu cơ trong đất đạt đến đỉnh điểm. Nếu cây tăng trưởng kém và nước không đủ ô-xy hòa tan thì cá sẽ phải nổi lên mặt nước để thở. Giải pháp là nhanh chóng gia tăng mức độ sục khí và/hay khuấy động mặt nước.

Một khi đất nền ngập trong nước, hoạt động của vi khuẩn và sự phân hủy sẽ không ngừng gia tăng trong những tuần đầu tiên. Sự hỗn loạn lúc ban đầu này là một quá trình tự nhiên. Do đó đất nền sẽ xả dưỡng chất vào nước, điều kích thích tảo tăng trưởng. Nếu có quá ít cây hay cây không phát triển tốt, nguồn dưỡng chất sẽ kích thích sự phát triển của tảo. Sự bùng phát của tảo sẽ ngăn cản cây phát triển, từ đó tạo ra một vòng luẩn quẩn: cây chết sẽ tiết thêm dưỡng chất vào nước, càng kích thích tảo hơn nữa, và rễ cây chết sẽ cung cấp chất hữu cơ tươi cho đất, do đó càng làm đất nền yếm khí và càng bất lợi hơn đối với cây.

Mục đích chung của người chơi thủy sinh là phải giúp cây phát triển tốt trước khi đất nền biến động. Bởi vì nếu cây phát triển tốt trong hai tuần đầu tiên, thì chính cây – chứ không phải tảo – sẽ hấp thu hầu hết chất dinh dưỡng được tiết ra. Cây sẽ tạo ra đầy đủ ô-xy để giữ an toàn cho bộ rễ của chúng, và do vậy hồ thủy sinh tự nhiên được thiết lập một cách an toàn với rắc rối tối thiểu.

Chuẩn bị
Hồ thủy sinh tự nhiên phải được thiết lập để cây tăng trưởng một cách tối đa lúc ban đầu. Thiết lập một hồ thủy sinh tự nhiên và đợi vài ngày mới lắp đèn là điều nên tránh. Người mới chơi thường không có đủ cây hay không biết loài nào phù hợp với mình nhất. Có cám dỗ đáng kể để bỏ qua việc trồng cây, đặc biệt là với hồ lớn. Lời khuyên của tôi là, hoặc bạn phải có đủ cây, hoặc sử dụng hồ nhỏ hơn. Nếu bạn có ít cây, thì thà thiết lập hồ 40 lít mà trồng đầy đủ còn hơn hồ 400 lít mà thưa thớt; cơ hội để sở hữu hồ thủy sinh tự nhiên không-sự-cố sẽ lớn hơn rất nhiều.

Việc chiếu sáng phải tuân thủ những hướng dẫn cơ bản dành cho hồ thủy sinh nói chung, và dĩ nhiên hồ thủy sinh cần nhiều ánh sáng hơn so với hồ bình thường.

Thời lượng ngày (day length) đề nghị là tối thiểu 12 tiếng. Về lâu dài, nhiều loài cây thủy sinh không tăng trưởng tốt với thời lượng từ 8 đến 10 giờ. Hiển nhiên, sau vài tuần, chúng sẽ hoàn toàn suy sụp (Kasselmann, 2003). Tôi ngờ rằng thời lượng ngày ngắn ngủi có thể là tín hiệu đối với một số loài cây nhất định rằng mùa sinh trưởng đã kết thúc – có nghĩa đây là lúc ngủ đông và ngưng tăng trưởng. Bởi vì cây và tảo luôn cạnh tranh, sự tăng trưởng chậm của cây thường được diễn dịch thành vấn đề tảo. Trớ trêu thay, một số người có hồ thủy sinh tự nhiên báo cáo rằng họ giải quyết vấn đề tảo chỉ đơn giản bằng cách gia tăng thời lượng chiếu sáng ngày.

Tôi áp dụng thời lượng ngày là 14 giờ (bật đèn lúc 7 giờ sáng và tắt lúc 9 giờ tối). Tuy nhiên, tôi chèn vào 4 giờ nghỉ trưa. Chiếu sáng nhân tạo chỉ trong 10 giờ nhưng cây có thời lượng ngày tổng cộng 14 giờ. Với chế độ nghỉ trưa, cây luôn phát triển tốt mà lại tiết kiệm điện. Vào những tháng mùa hè, khi hồ có xu hướng quá nhiệt thì chế độ nghỉ trưa còn giúp nước hạ nhiệt. Tôi dùng bộ định thời để cung cấp một thời lượng ngày ngày cố định và thuận lợi.

Thiết lập hồ thủy sinh tự nhiên
Việc thiết lập hồ phải mất cả ngày, vì vậy vào Ngày Thiết Lập tôi bắt đầu vào 8 giờ sáng cùng với mọi thứ cần thiết để thiết lập cho một hồ 220 lít. Tôi có một kế hoạch tổng quát cùng với cây, đất nền, đá, sỏi và cát đã chuẩn bị sẵn. Tôi thực hiện theo quy trình sau:

– Tôi nhặt que và những mẩu gỗ lớn ra khỏi đất trồng cây.

– Tôi trộn nửa ly bột xương với từ 8 đến 12 lít đất trồng cây (điều này không bắt buộc).

– Để trang trí, tôi xếp đá xung quanh vùng không trồng cây hình ô-van. Tôi trải một lớp cát mỏng vào đó (khoảng 1 cm). Đá và cát được đặt thẳng xuống đáy hồ.

– Bên cánh trái hồ, tôi trải lớp đất trồng cây mỏng hơn 2.5 cm (đất dày có thể trở nên cực kỳ yếm khí làm chết rễ cây, phá hỏng toàn bộ hồ).

– Bên cánh phải hồ, tôi không trải đất nền mà trải sỏi. Sỏi cung cấp bề mặt để vi khuẩn cư ngụ nhưng không được quá dày để hình thành các túi yếm khí hay đòi hỏi phải làm vệ sinh. Tôi dành riêng vùng này cho những cây trồng trong chậu và nham thạch có dương xỉ bám. Với kiểu thiết kế này, tôi có thể bắt cá mà không phải xới tung cả hồ – tôi lùa chúng về phía bên phải và gắn tấm ngăn hồ. Sau khi lấy các chậu cây và nham thạch ra, tôi có thể vớt cá một cách dễ dàng.

– Tôi châm nước để làm ướt nền nhưng không quá nhão.

– Tôi trồng những cây trồng rễ (rooted plant).

– Sử dụng một cái muỗng lớn, tôi trải sỏi vừa đủ để phủ lớp đất nền. Sau khi bố trí xong, lớp sỏi không được dày hơn 2.5 cm. Cát dùng để phủ lớp đất nền cũng không được dày hơn 2.5 cm.

– Tôi châm nước một cách cẩn thận để tránh làm xáo trộn lớp nền. Khi châm, tôi luôn sử dụng một cái chai (hay bất kỳ vật gì khác) để cản bớt lực nước.

– Rồi tôi bắt đầu trồng cây cắt cắm (stem plant). Tại đây, cần thêm nhiều sỏi và cát để phủ những nơi nền bị bung ra. Tôi cũng sử dụng đá nhỏ để chèn tạm những cây bị bật gốc.

– Nước mới châm hơi bị đục vì vậy tôi xả nước này trước khi châm đầy hồ bằng nước máy cùng với chất khử. Ngày hôm sau, tôi lắp máy lọc rồi thả cá và ốc.

[​IMG]
[​IMG]
[​IMG]

Bảo trì hồ sau khi thiết lập
Hồ này rất dễ bảo trì. Mặc dù một ít tảo xuất hiện trong hai, ba tháng đầu tiên, nhưng cá không hề gặp bất kỳ vấn đề gì.

Nghĩa là tôi luôn phải dự đoán trước những vấn đề trong tám tuần đầu tiên. Trong thời gian này, đất nền tiêu thụ một lượng ô-xy rất lớn. Nó nhả chất dinh dưỡng kích thích tảo phát triển, và nó có thể nhả ta-nanh làm giảm cường độ sáng. Tôi xử lý các vấn đề này bằng những cách thông thường – thay nước, sục khí đầy đủ, gỡ tảo bằng tay và bổ sung than củi vào bộ lọc. Những người sử dụng đất nền giàu dưỡng chất hơn loại của tôi có thể đạt được kết quả tuyệt vời về lâu dài. Tuy nhiên, có lẽ họ phải chăm sóc hồ thường xuyên hơn để vượt qua tám tuần quan trọng đầu tiên.

Đất nền trong nước chắc chắn sẽ phát sinh bọt khí (đa phần là khí CO2) trong tám tuần đầu tiên. Người chơi không nên quá lo lắng; đây chẳng qua là hiện tượng phân hủy, điều chứng tỏ rằng nền có sức sống. Chỉ khi nào bọt khí có mùi trứng thối của H2S thì người chơi mới phải lưu tâm. Bọt khí và xáo trộn ở đáy giúp cho lớp nền thoáng khí. Hiển nhiên, nếu lớp nền trở nên cực kỳ yếm khí và hạn chế sự tăng trưởng của cây, tôi có thể dùng bút chì (hay bất kỳ vật nhọn nào) xỉa xuống để ô-xy có thể thâm nhập vào.

Hồ 220 lít của tôi hiện đang vận hành tốt. Từ khi thiết lập, tôi chỉ tái sắp xếp một ít bên cánh phải hồ, chủ yếu là lấy gạch ra và đặt chậu trồng cây lá kiếm Amazon vào. Việc bảo trì chính hiện nay là tỉa cây để nảy nhánh mới và ngăn không cho một loài xâm chiếm toàn bộ hồ. Nếu tôi lấy cây trồng rễ (rooted plant) ra và làm xáo trộn lớp đất nền, tôi luôn tắt máy lọc trước để hạn chế xáo trộn tối đa. Nước sẽ trong lại vào hôm sau.

Những người khác thiết lập hồ thủy sinh tự nhiên với kết quả ấn tượng và dường như đặc biệt hài lòng với nhu cầu bảo trì thấp của nó.

[​IMG]
[​IMG]

Lưu ý sau cùng
1. Đa phần vi khuẩn trong lớp nền sử dụng quy trình hấp thụ nitrate (nitrate respiration) hơn là quy trình phân hủy ni-tơ (denitrification) (Gamble, 1977). Quy trình hấp thụ nitrate biến nitrate thành chất nitrite độc hại, trong khi quy trình phân hủy chuyển hóa nitrate thành khí N2 không độc. Do đó, kết cục của phân đạm trong lớp đất trồng cây hầu như chuyển hóa thành nitrite. Bởi vì nitrite không được đất hấp thu nên chúng tan vào nước. Trước đây rất lâu, tôi đã cho rằng sự hiện diện của phân đạm trong đất nền là vô hại. Tôi đã sai vì kết quả dẫn đến chất độc nitrite, trong một số trường hợp, làm chết cá và/hay phát sinh bệnh tật.

2. Vi khuẩn tiêu hao sulfate – nghĩa là những loài chuyển hóa sulfate thành khí độc H2S – đặc biệt hoạt động mạnh trong môi trường yếm khí như ở đất nền trồng cây. Tôi đã làm một thí nghiệm với cây trồng trong những chậu riêng biệt với loại đất khác nhau, có hay không bón phân. Cây tăng trưởng ở chậu đất và cực kỳ èo uột ở chậu trộn phân bón với thành phần sulfate. Thêm nữa, rễ cây bị đen và xốp – vì tác động của H2S. Mặt khác, cây mọc trong đất vườn có đất sét lại tương đối tốt dù chứa phân bón với thành phần sulfate hay không (Walstad, 1994).

3. Tôi ghi nhận sự bất ổn định của đất nền mới trong quyển sách Hệ sinh thái trong Hồ Thủy Sinh (nhà xuất bản Echinodorus, 1999) của mình, trang 130-140. Hình VIII-6 thể hiện mức độ nhả cực nhanh các chất sắt, can-xi và những chất dinh dưỡng khác bắt đầu vào tuần thứ hai và đạt đỉnh điểm tại tuần thứ ba và thứ tư, rồi sau đó giảm dần.

[​IMG]

Nguồn: Sưu tầm

Phản hồi của bạn